post

Hôm nay, ngày 12/04/2018 tại thủ đô Hà Nội, Liên minh đất rừng với sự phối kết hợp của 3 đơn vị Panature, Tropenbos và CIRD tổ chức hội thảo kỹ thuật góp ý dự thảo nghị định quy định thì hành một số điều Luật lâm nghiệp 2017. Tại hội thảo có sự tham gia của các chuyên gia về lâm nghiệp như GS. Đặng Hùng Võ, Chuyên gia Đoàn Diễm, Chuyên gia Nguyễn Sỹ Dũng… đóng góp trực tiếp các góp ý cho các nghị định quy định thực thi.

DSCN1880

Sau hơn ba mươi năm đổi mới,nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế -xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, kinh tế – xã hội Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực được huy động; kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm; chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia của nền kinh tế còn thấp; phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; chưa đạt được mục tiêu tạo nền tảng để trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

DSCN1886

Trong bối cảnh chung đó, ngành lâm nghiệp đang đứng trước những cơ hội lớn:

Một là, những thành tựu, kinh nghiệm của hơn 30 năm đổi mới (1986 – 2017) đã tạo ra cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước; nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng. GPD năm 2017 của Việt Nam đã tăng lên khoảng 4,5 lần, từ 49 tỷ USD năm 2004 lên 223 tỷ USD năm 2017. Trong cơ cấu của nền kinh tế, nông – lâm – thủy sản tiếp tục giảm tỷ trọng từ mức 20,4% năm 2004 xuống còn 15,34% năm 2017; ngành lâm nghiệp mức tăng trưởng cao đạt 7,09 % vào năm 2014, 7,92% năm 2015, 6,17% năm 2016 và 5,14% năm 2017.

Hai là, nhận thức về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, trong đó thực hiện quản lý rừng theo nguyên tắc bền vững đã được nâng lên và thể hiện rõ nét trong chủ trương, chính sách lâm nghiệp; tài nguyên rừng được phục hồi và phát triển nhanh, tăng từ 12,306 triệu ha năm 2004 lên 14,377 triệu ha vào năm 2016; tương ứng độ che phủ của rừng toàn quốc tăng từ 37% lên 41,19%.

Ba là, thương mại gỗ, đồ gỗ trong nước và trên thế giới tăng trưởng mạnh, tạo cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ của Việt Nam (số doanh nghiệp chế biến tăng nhanh: năm 2000 có 900 DN, năm 2013 có 4000 DN, vốn đầu tư đến 2012 trên 4 tỷ USD); kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản vẫn tiếp tục tăng (đạt 6,3 tỷ USD năm 2014; 7,1 tỷ USD năm 2015; 7,3 tỷ USD năm 2016 và 8 tỷ USD năm 2017); sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt trên 120 nước.

Bốn là, hợp tác quốc tế về lâm nghiệp tiếp tục phát triển ngày càng sâu rộng, đa dạng nhằm thu hút hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng phục vụ mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.

Tuy nhiên, ngành lâm nghiệp cũng đang đứng trước những thách thức hết sức to lớn:

Thứ nhất, trong xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, Việt Nam được dự báo là một trong 5 nước chịu sự ảnh hưởng nặng nề. Tác động dài hạn của biến đổi khí hậu có thể dẫn đến thay đổi sinh cảnh gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học rừng, làm gia tăng sâu bệnh, cháy rừng, mất rừng và sa mạc hóa.

Thứ hai, bất cập giữa yêu cầu phát triển ngành lâm nghiệp nhanh, toàn diện và bền vững với các nguồn lực của ngành, đặc biệt là vốn đầu tư cho ngành lâm nghiệp còn hạn chế. Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình (thấp), nên các nguồn vốn ODA cho lâm nghiệp cũng giảm, trong khi đó việc huy động các nguồn vốn xã hội hóa còn hạn chế.

Thứ ba, dân số gia tăng, nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp cho các mục đích khác vẫn tiếp tục tăng mạnh; tranh chấp đất đai giữa cây rừng, cây nông nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp lâu năm và có giá trị xuất khẩu cao… luôn luôn tồn tại; sự gia tăng nhu cầu gỗ là động cơ thúc đẩy các hoạt động khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản bất hợp pháp vẫn là mối đe dọa lớn đối với các khu rừng tự nhiên giàu và trung bình, bất lợi cho việc thiết lập lâm phận ổn định.

Thứ tư, hiện nay ngành lâm nghiệp gặp khó khăn trong xây dựng quy hoạch và tuyển chọn giống phù hợp cho trồng rừng gỗ lớn, nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.

Thứ năm, ngành chế biến gỗ chủ yếu hướng tới xuất khẩu trong khi phải đáp ứng yêu cầu mới của các thị trường nhập khẩu về nguồn gốc gỗ hợp pháp. Đây là những thách thức lớn cho quản lý rừng sản xuất bền vững của Việt Nam.

Để thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội trong Lâm nghiệp là ngành kinh tế – kỹ thuật bao gồm các hoạt động về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản theo định hướng thị trường và hội nhập quốc tế; có cơ cấu quản lý, sản xuất kinh doanh hợp lý, ổn định theo hướng hiện đại, phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường; góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người làm nghề rừng và công cuộc xây dựng nông thôn mới, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh, sau hơn 1 năm khẩn trương rà soát sửa đổi bổ sung Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 thay thế Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Luật Lâm nghiệp có 12 chương với 108 điều, tăng 4 chương và 20 điều so với Luật BV&PTR năm 2004. Đây là luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân, đặc biệt những người làm nghề rừng.

Để kịp thời ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật nhằm đảm bảo Luật được thực hiện ngay sau khi có hiệu lực pháp lý, Tổng cục Lâm nghiệp đã khẩn trương thành lập tổ soạn thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật lâm nghiệp, các nghị định và Thông tư khác dưới Luật. Đến nay, sau Hội thảo quốc gia ngày 16/3/2018, Tổ soạn thảo đã chỉnh sửa dự thảo lần 1 và đưa dự thảo lần 2 ra lấy ý kiến các Bộ, ngành và nhân dân.Dự thảo Nghị định lần 2 gồm 8 chương, 107 Điều.

Các nội dung chia sẽ đóng góp trong hội thảo tập trung vào chế biến lâm sản, đảm bảo gỗ hợp pháp, các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp trong đảm bảo gỗ hợp pháp, các hoạt động về thương mại lâm sản. Chuyên gia Trần Ngọc Bình chia sẽ các điểm còn tồn tại cần được bổ sung thêm vào một số điều liên quan đến chính sách giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư địa phương. Các chính sách liên quan đến hỗ trợ nhóm yếu thế và cộng đồng dân tộc thiểu số về quyền lợi trong giao đất giao rừng.

Về ý kiến chia sẻ của chuyên gia Đặng Hùng Võ chuyên gia chia sẽ các nội dung mà Luật gia cho chính phủ. Nghị định chỉ được quy định những nội dung mà Luật giao cho Chính phủ quy định, vì vậy phải tính toán rất cụ thể về giải pháp để có thể quy định thêm những nội dung cần thiết. Cách tiếp cận của Nghị định vẫn theo tư duy cũ, quá nặng về cơ chế Nhà nước làm tất cả, chưa làm rõ được việc phải đổi mới để chi tiết hóa cách tìm động lực bảo vệ và phát triển rừng từ quyền hưởng dụng. Về mặt xã hội, Nghị định chưa quan tâm tới quyền, lợi ích và sức mạnh của cộng đồng dân cư địa phương trong chống lâm tặc, phòng và chữa cháy rừng và được tham gia vào chuỗi giá trị của rừng. Trước mắt cần quan tâm vận động chính sách đối với: (1) Hình thành khung chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp; (2) Quyền và nghĩa vụ của các ban quản lý rừng.

Để đọc thêm các thông tin về các bài chia sẽ, mời quý độc giả tải về tài liệu tại đây

Trả lời